Nguồn: Focus |
Mỹ và các đồng minh vẫn chiếm ưu thế tác chiến trong lòng đại dương nhờ khả năng tàng hình vượt trội của các tàu ngầm, hệ thống liên lạc hiệu quả, kinh nghiệm tác chiến dày dạn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đồng minh, ngay cả khi Trung Quốc mở rộng mạng lưới cảm biến đầy tham vọng với mục tiêu khiến đại dương trở nên “rõ ràng” hơn.
Sáng kiến “Đại dương trong suốt” của Bắc Kinh là một nỗ lực giám sát đáng gờm, nhưng không thay đổi được cán cân chiến lược dưới đáy đại dương.
Thậm chí, sáng kiến này cho thấy Trung Quốc nhận thức rõ rằng, họ vẫn đang đối mặt với một bất lợi lớn và dai dẳng trước Mỹ và các đồng minh ở một trong những lĩnh vực cạnh tranh quân sự then chốt nhất.
Ưu thế đó vẫn giữ vai trò trung tâm đối với năng lực răn đe tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
![Tàu nghiên cứu Trung Quốc Haiyang Liuhao (còn gọi là Ocean số 6), ngày 6/01/2017. [Rong Qihan/Tân Hoa Xã/AFP]](/gc9/images/2026/04/27/55757-afp__20170106__xxjpbee001743_20170106_tppfn0a001__v1__highres__antarcticchinaresearc-370_237.webp)
Trong nhiều thập kỷ, các tàu ngầm hạt nhân của Mỹ và những đồng minh thân cận đã tận dụng môi trường âm học phức tạp của đại dương để hoạt động với khả năng tàng hình, sinh tồn và tính linh hoạt vượt trội.
Năng lực đó đã góp phần ngăn chặn xung đột, bảo vệ lợi ích của các đồng minh và bảo đảm an ninh cho các tuyến hàng hải mà Đài Loan, Nhật Bản, Philippines và các quốc đảo nhỏ ở Thái Bình Dương phụ thuộc vào để vận chuyển lương thực, năng lượng và thực hiện các hoạt động thương mại.
Nỗ lực phát triển mạng lưới cảm biến của Trung Quốc
Đáp lại, Trung Quốc đã đầu tư vào một cấu trúc giám sát cố định và đa tầng nhằm nâng cao khả năng hiểu biết về môi trường dưới đáy biển.
Những cuộc khảo sát biển mang tính định kỳ ban đầu đã phát triển thành một mạng lưới tham vọng hơn nhiều, trải dài từ đáy biển lên đến mặt nước và kết nối với các hệ thống vệ tinh.
Được hỗ trợ nguồn kinh phí lớn từ ngân sách nhà nước và có liên kết với các tổ chức nghiên cứu quân sự Trung Quốc, sáng kiến này sử dụng các cảm biến dưới đáy biển, phao, nền tảng không người lái dưới nước và các công cụ thu thập dữ liệu khác tại những vùng biển chiến lược nhạy cảm gần Đài Loan, Guam, Philippines và các điểm nghẽn quan trọng trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Mục tiêu của sáng kiến này là khá rõ ràng: cải thiện năng lực của Trung Quốc trong việc mô phỏng sự lan truyền của âm thanh dưới nước và tăng cường khả năng phát hiện và theo dõi các hoạt động của tàu ngầm.
Bằng cách thu thập dữ liệu chi tiết về độ mặn, nhiệt độ và dòng hải lưu, Bắc Kinh đặt mục tiêu giảm bớt những yếu tố bất định, vốn là điều kiện thuận lợi giúp các lực lượng tàu ngầm hoạt động êm ái và hiệu quả hơn.
Trên lý thuyết, điều đó có thể giúp việc tìm kiếm các tàu ngầm nước ngoài trở nên dễ dàng hơn, kể cả các tàu ngầm lớp Los Angeles và Virginia của Mỹ.
Giới hạn của việc lập bản đồ
Tuy nhiên, cần nhìn nhận nỗ lực này trong bối cảnh tổng thể.
Hiểu môi trường tốt hơn không đồng nghĩa với việc làm chủ dưới lòng đại dương.
Việc lập bản đồ cột nước hiệu quả hơn không đồng nghĩa với việc có thể sánh ngang với năng lực của các hạm đội tàu ngầm tiên tiến nhất thế giới.
Mỹ và các đồng minh vẫn có lợi thế mang tính quyết định trong những nhân tố quan trọng nhất.
Điều đó bắt đầu từ chính các tàu ngầm. Các tàu ngầm lớp Virginia và Seawolf của Mỹ vẫn chạy êm hơn đáng kể và tiên tiến hơn so với các tàu ngầm tấn công Type 093 và tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Type 094 của Trung Quốc.
Ưu thế của Mỹ
Các hệ thống đẩy chạy bằng năng lượng hạt nhân tiên tiến, bao gồm cả chân vịt kiểu pump-jet, tạo ra tín hiệu âm thanh thấp hơn nhiều và khiến các tàu ngầm này khó bị phát hiện hơn.
Ưu điểm về khả năng chạy êm ái này là một trong những chỉ số rõ ràng nhất cho thấy lợi thế bền vững của Mỹ trong tác chiến dưới đáy biển.
Những tiến bộ của phương Tây trong lớp phủ tiêu âm (không có tiếng vọng) và các vật liệu làm thân tàu chuyên dụng được thiết kế để hấp thụ tín hiệu phát hiện tàu ngầm (sonar) là một điểm cộng lớn.
Ngay cả trong những vùng biển đã được lập bản đồ dày đặc, các tàu ngầm của Mỹ vẫn khó bị phát hiện, phân loại và theo dõi hơn nhiều so với các tàu ngầm của Trung Quốc.
Một thế mạnh quan trọng khác của Hải quân Mỹ là hệ thống liên lạc.
Các sóng tần số cực thấp (ELF) hoạt động dưới 300 Hz có thể truyền tới tàu ngầm ở độ sâu lớn, cho phép chúng duy trì hoạt động ở hàng trăm mét dưới mặt nước, bên dưới các tầng môi trường mà các đối thủ có thể tìm cách dò tìm.
Các sóng ELF hoạt động như một một “hồi chuông báo”, báo hiệu tàu ngầm thay đổi độ sâu, tiến gần hơn về phía mặt nước để nhận dữ liệu có băng thông cao hơn, đồng thời vẫn duy trì khả năng tàng hình và khiến những nỗ lực kiềm chế các lực lượng ngầm của Mỹ bị thất bại.
Kinh nghiệm tác chiến cũng quan trọng không kém so với trang thiết bị kỹ thuật.
Mỹ và các đồng minh sở hữu kinh nghiệm tích lũy trong nhiều thập kỷ về tác chiến tàu ngầm và học thuyết chung, được củng cố bởi năng lực chống ngầm phối hợp và các hệ thống không người lái.
Thông qua AUKUS và sự phối hợp với Nhật Bản, Australia và Philippines, Washington đang củng cố một mạng lưới được tích hợp trong lòng đại dương trên toàn khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Sáng kiến “Đại dương trong suốt” của Bắc Kinh nên được hiểu là một nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách vốn vẫn còn rất lớn. Sáng kiến này cho thấy rõ tham vọng của Trung Quốc, đồng thời cũng khẳng định nước này vẫn còn một chặng đường dài nữa phải đi.
Mỹ và các đồng minh của mình vẫn "trên cơ" về khả năng tàng hình, hệ thống liên lạc, huấn luyện, học thuyết và năng lực tác chiến liên minh. Trong lòng đại dương, ưu thế đó vẫn giữ vai trò quyết định.
![Tàu ngầm tấn công nhanh lớp Seawolf USS Seawolf (SSN-21) di chuyển trên Thái Bình Dương, ngày 22/06/2021. [Olympia O. McCoy/Hải quân Mỹ/DVIDS]](/gc9/images/2026/04/27/55756-6819096-370_237.webp)