Năng lực

Đài Loan đặt mục tiêu tăng mạnh sản lượng drone khi xuất khẩu tăng vọt

Xuất khẩu drone của Đài Loan đã vượt tổng mức của cả năm ngoái. Sự bùng nổ này củng cố các nỗ lực xây dựng chuỗi cung ứng phi Trung Quốc và tăng cường năng lực phòng thủ phi đối xứng.

Phó Tổng thống Đài Loan Hsiao Bi-khim (trái) thăm các drone và công nghệ then chốt khác của Thunder Tiger tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng đổi mới UAV AI Châu Á ở Chiayi, Đài Loàn ngày 26/1. [Ảnh do Thunder Tiger Corp. cung cấp]
Phó Tổng thống Đài Loan Hsiao Bi-khim (trái) thăm các drone và công nghệ then chốt khác của Thunder Tiger tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng đổi mới UAV AI Châu Á ở Chiayi, Đài Loàn ngày 26/1. [Ảnh do Thunder Tiger Corp. cung cấp]

Tác giả: Joyce Huang |

Trong bối cảnh xuất khẩu drone tăng vọt, Đài Loan đang đặt mục tiêu tăng gấp ba giá trị sản lượng của ngành drone vào năm 2030, một cách tiếp cận mà các nhà phân tích cho rằng sẽ củng cố năng lực phòng thủ phi đối xứng trước nguy cơ Trung Quốc tấn công.

“Chúng tôi khá lạc quan về triển vọng của ngành trong 5 đến 10 năm tới… khi căng thẳng địa chính trị đã thúc đẩy các quốc gia [bao gồm Đài Loan] mở rộng đội hình drone”, ông Gene Su, tổng giám đốc Thunder Tiger Corp., nói với Focus.

Ông noi thêm, nhu cầu gia tăng sẽ đến từ cả thị trường nước ngoài lẫn trong nước.

Thunder Tiger là nhà sản xuất drone có trụ sở tại Đài Trung, miền trung Đài Loan.

Công ty drone Thunder Tiger của Đài Loan đã ra mắt mẫu drone dưới nước mới nhất, SeaShark 800, vào cuối tháng 4. [Ảnh do Thunder Tiger Corp. cung cấp]
Công ty drone Thunder Tiger của Đài Loan đã ra mắt mẫu drone dưới nước mới nhất, SeaShark 800, vào cuối tháng 4. [Ảnh do Thunder Tiger Corp. cung cấp]

Bùng nổ drone

Ông Su đồng tình với tầm nhìn của Thủ tướng Đài Loan Cho Jung-tai. Ông Cho cho biết trong cuộc họp nội các vào cuối tháng 4 rằng Đài Loan sẽ đầu tư 44,2 tỷ Đài tệ (1,4 tỷ USD) trong 5 năm để nâng giá trị sản lượng ngành drone lên 40 tỷ Đài tệ (1,27 tỷ USD) vào năm 2030.

Theo ông Su, gần một nửa khoản đầu tư, tức khoảng 20 tỷ Đài tệ (636 triệu USD), nhiều khả năng sẽ được dùng để mua các drone lưỡng dụng, được thiết kế cho mục đích dân sự như cảnh sát hoặc cứu hỏa, nhưng có thể chuyển đổi sang hoạt động quân sự.

Theo số liệu do Bộ Kinh tế Đài Loan công bố cuối tháng 4, sản lượng hằng năm của ngành, bao gồm doanh số linh kiện và drone hoàn chỉnh, đã tăng hơn gấp đôi từ 5 tỷ Đài tệ (158 triệu USD) năm 2024 lên 12,9 tỷ Đài tệ (410 triệu USD) năm 2025.

Con số này dự kiến đạt 20 tỷ Đài tệ (636 triệu USD) vào năm 2026.

Chiến lược “hellscape”

Với các sáng kiến này của chính phủ, ngành kỳ vọng khai thác thị trường nội địa của Đài Loan, nơi nhu cầu vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ, theo ông Su tại Thunder Tiger.

Chính phủ Đài Loan đang đón nhận phiên bản nâng cấp của khái niệm phòng thủ “hellscape” sau những bài học gần đây từ cuộc chiến Mỹ - Israel với Iran, ông Su nhận định.

Trong nhiều tuần, Iran đã triển khai các drone Shahed giá rẻ nhằm làm tiêu hao các tiêm kích đắt tiền của Mỹ hoặc tấn công cơ sở hạ tầng, bao gồm nhà máy điện và các mỏ dầu ở các nước láng giềng, ông nói thêm.

Theo báo cáo tháng 2 của Center for a New American Security, khái niệm “hellscape” trong tác chiến qua Eo biển Đài Loan “vận dụng hỏa lực dày đặc, đa hướng do drone và các hệ thống không người lái khác tạo ra nhằm bào mòn lực lượng xâm lược của Trung Quốc và làm gián đoạn cuộc đổ bộ của PLA [Quân Giải phóng Nhân dân] … ngay tại mép nước”.

Ông Su cho rằng việc áp dụng chiến lược này đòi hỏi Đài Loan phải sản xuất drone tác chiến ở quy mô lớn hơn hiện nay.

Ví dụ, với các dây chuyền lắp ráp đổi mới, Thunder Tiger có thể sản xuất hàng trăm drone trên không và hàng chục drone dưới nước mỗi tháng với chi phí chỉ bằng một phần nhỏ so với vũ khí truyền thống, ông nói thêm.

“Chiến tranh trong tương lai sẽ chủ yếu tập trung vào sự bào mòn. Quốc gia nào có năng lực sản xuất drone tối đa sẽ có cơ hội trụ vững lâu hơn trước đối thủ”, ông Su nói.

Thunder Tiger gần đây đã ra mắt dòng drone Papa DELTA, được phát triển dựa trên drone LUCAS của quân đội Mỹ, cùng với drone dưới nước SeaShark 800. Công ty kỳ vọng mở rộng thị trường tại Đài Loan và các quốc gia khác trên “chuỗi đảo thứ nhất” chiến lược, bao gồm Nhật Bản và Philippines.

Mua sắm drone

Trong tháng 4, công ty đã giành được hai hợp đồng mua sắm drone từ quân đội Đài Loan. Kế hoạch là mua gần 50.000 thiết bị đến năm 2027, trải rộng trên năm loại drone, trong đó drone góc nhìn thứ nhất (FPV) Nhóm 1 chiếm phần lớn.

Drone FPV Overkill của Thunder Tiger đã được đánh giá đủ điều kiện sử dụng cho chính phủ và quân đội Mỹ sau khi nhận chứng nhận Blue UAS của Bộ Quốc phòng Mỹ vào năm ngoái.

Ông Su dự báo nhu cầu trong nước đối với vũ khí phi đối xứng, chủ yếu là drone tác chiến, sẽ tăng mạnh sau khi Đài Loan chốt được ngân sách quân sự đặc biệt trị giá 1,25 nghìn tỷ Đài tệ (40 tỷ USD) đề xuất cho 8 năm tới. Cho đến nay, phe đối lập đang kiểm soát quốc hội đã ngăn chặn dự luật này.

Ngân sách đề xuất sẽ kết hợp mua sắm từ nước ngoài với mua sắm trong nước, bao gồm khoảng 200.000 phương tiện bay không người lái.

Tuy nhiên, ngành drone của Đài Loan đang đối mặt với những thách thức lớn trong việc mở rộng quy mô, bao gồm hạn chế về năng lực sản xuất và sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài hoặc nguyên liệu thô từ Trung Quốc, do Trung Quốc chi phối chuỗi cung ứng drone toàn cầu, theo Nikkei Asia.

Đà xuất khẩu

Theo ông Su, lợi thế của Đài Loan trong việc xây dựng chuỗi cung ứng drone “không màu đỏ” không phụ thuộc linh kiện và kiểm soát của Trung Quốc sẽ ngày càng rõ nét khi các đồng minh dân chủ, do lo ngại an ninh mạng, ngừng đặt hàng drone sản xuất tại Trung Quốc.

Ông cho biết thêm, xuất khẩu drone của Đài Loan sẽ tiếp tục tăng tốc khi các quốc gia gấp rút bổ sung hoặc xây dựng kho drone của mình.

Số liệu chính thức cho thấy xuất khẩu drone thành phẩm của hòn đảo đã tăng gấp 21 lần, lên 2,95 tỷ Đài tệ (93,8 triệu USD) trong năm ngoái.

Nhờ nhu cầu từ Trung và Đông Âu, xuất khẩu drone của Đài Loan tiếp tục tăng lên gần 116 triệu USD trong quý I năm 2026, vượt tổng mức của cả năm ngoái, theo các số liệu này.

Séc và Ba Lan là hai khách hàng lớn nhất, lần lượt chiếm 100 triệu USD và 11,8 triệu USD doanh số trong quý I. Cả hai đều được xem là cửa ngõ trung chuyển sang Ukraine.

Bạn có thích bài viết này không?

Policy Link